Theo Điều 3 của Nghị quyết, mức phụ cấp hằng tháng đối với từng chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố được quy định theo quy mô hộ gia đình và đặc điểm địa bàn, cụ thể như sau:
1. Đối với địa bàn thuộc nhóm được hưởng mức phụ cấp cao hơn, gồm: thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo và thôn đặc biệt khó khăn, mức phụ cấp được quy định như sau:
Bí thư Chi bộ: 2,8 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố: 2,7 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
Trưởng Ban Công tác Mặt trận: 2,5 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
2. Đối với các thôn, tổ dân phố còn lại, mức phụ cấp hằng tháng được quy định như sau:
Bí thư Chi bộ: 2,3 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
Trưởng thôn hoặc Tổ trưởng tổ dân phố: 2,2 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
Trưởng Ban Công tác Mặt trận: 2,0 lần mức lương cơ sở/người/tháng.
Mức phụ cấp nêu trên đã bao gồm kinh phí hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Nghị quyết còn quy định mức hỗ trợ hằng tháng đối với các chức danh tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố là 1.900.000 đồng/người/tháng; đồng thời quy định việc kiêm nhiệm chức danh và mức phụ cấp, hỗ trợ kiêm nhiệm tương ứng. Theo đó, người kiêm nhiệm chức danh được hưởng mức phụ cấp hoặc mức hỗ trợ kiêm nhiệm bằng 50% mức phụ cấp hoặc mức hỗ trợ của chức danh kiêm nhiệm nếu việc kiêm nhiệm làm giảm 01 người trong số lượng người được bố trí theo quy định. Trường hợp kiêm nhiệm nhiều chức danh, người kiêm nhiệm chỉ được hưởng một mức phụ cấp hoặc mức hỗ trợ kiêm nhiệm cao nhất.
Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 10 năm 2026./.