Trang Thông tin điện tử Sở Tư pháp Gia Lai

https://stp.gialai.gov.vn:


Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ban hành Kết luận Phiên họp lần thứ hai

Ngày 26/8/2026, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL (sau đây viết tắt là Ban Chỉ đạo) đã chủ trì Phiên họp lần thứ hai của Ban Chỉ đạo.
(Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL chủ trì Phiên họp lần thứ 2- Ảnh: https://moj.gov.vn/)
Sau khi nghe Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp) trình bày dự thảo Báo cáo của Chính phủ về tình hình triển khai tổng rà soát hệ thống VBQPPL và các ý kiến phát biểu, trao đổi, thảo luận của các đại biểu tham dự, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận như sau:
1. Tổng rà soát hệ thống VBQPPL là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đồng chí Thường trực Ban Bí thư rất quan tâm chỉ đạo, có ý nghĩa góp phần trực tiếp hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.
Ban Chỉ đạo ghi nhận và đánh giá cao tinh thần chủ động, trách nhiệm, nỗ lực của Chính phủ, các đồng chí Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo, Bộ Tư pháp (Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo), Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, các thành viên Ban Chỉ đạo cùng các cơ quan Trung ương, địa phương trong triển khai một nhiệm vụ có quy mô rất lớn, chưa có tiền lệ, thời gian gấp và yêu cầu chất lượng rất cao.
2. Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất với dự thảo Báo cáo của Chính phủ và các Phụ lục kèm theo. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội và các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại Phiên họp hôm nay để tham mưu việc chỉnh lý, hoàn thiện Báo cáo để Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 31/8/2026. Yêu cầu xuyên suốt là không chạy theo số lượng, không vì tiến độ mà làm giảm chất lượng. Mỗi văn bản đề xuất xử lý phải rõ nội dung vướng mắc; lý do, phương án, thời gian hoàn thành xử lý và cơ quan chịu trách nhiệm xử lý.
Trên cơ sở Báo cáo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo giao Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì, phối hợp với Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp) tham mưu Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét, trình cấp có thẩm quyền báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật trước ngày 05/9/2026 theo Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật (Chương trình số 04-CTr/BCĐTW ngày 06/7/2026) và Kế hoạch của Ban Chỉ đạo.
3. So với yêu cầu tại Phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo thì công việc đến nay đã có bước chuyển biến rõ rệt, tiến độ thực hiện cơ bản đã bám sát theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo. Tuy nhiên, các công việc đã thực hiện mới chỉ mang tính bước đầu nhận diện và rà soát, nhiệm vụ trong giai đoạn “về đích” là phải chuẩn hóa kết quả, nâng cao chất lượng và chuyển từ kiến nghị thành phương án xử lý cụ thể nhằm tái cấu trúc hệ thống pháp luật theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Để việc triển khai nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL trong thời gian tới được hiệu quả, bảo đảm tiến độ đã được Ban Chỉ đạo điều chỉnh tại Quyết định số 11/QĐ-BCĐ1, Ban Chỉ đạo đề nghị các thành viên Ban Chỉ đạo, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố bám sát Quyết định số 11/QĐ-BCĐ, tập trung chỉ đạo điều chỉnh Kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại cơ quan mình, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp) và các cơ quan liên quan bảo đảm tiến độ, chất lượng kết quả tổng rà soát.
Các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phải trực tiếp nghe báo cáo, cho ý kiến và chịu trách nhiệm về chất lượng của kết quả tổng rà soát của bộ, ngành, địa phương phụ trách. Trường hợp kết quả rà soát không bảo đảm yêu cầu hoặc sau rà soát vẫn phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập đã có nhưng bị bỏ sót thì sẽ tổng hợp, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Báo cáo kết quả tổng rà soát không chỉ thống kê VBQPPL có bất cập, điểm nghẽn mà phải xác định rõ định hướng, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình hoàn thiện thể chế của bộ, ngành, địa phương và bám sát theo tinh thần của Kết luận số 09-KL/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Chất lượng Báo cáo kết quả tổng rà soát là “thước đo năng lực” của người đứng đầu từng bộ, ngành, địa phương.
4. Mục tiêu của đợt tổng rà soát hệ thống VBQPPL lần này không chỉ là việc kiểm đếm văn bản mà phải là “cuộc kiểm kê chất lượng thể chế quốc gia”, phục vụ trực tiếp việc hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, tạo không gian phát triển mới. Do đó, các cơ quan, địa phương cần phải xác định đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong năm 2026. Tổng rà soát hệ thống VBQPPL phải được nhìn nhận là một khâu nối trực tiếp của quá trình đổi mới lập pháp và tổ chức thực thi pháp luật để bảo đảm thực hiện thông suốt những vấn đề đã được Quốc hội thông qua, đồng thời nhận diện và xử lý kịp thời những vướng mắc từ thực tiễn. Để thực hiện được việc này, kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL chính thức phải bảo đảm các yêu cầu sau:
- Kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL của các cơ quan, địa phương phải bảo đảm thực chất, tránh hình thức, không chỉ báo cáo về số lượng văn bản mà phải chú trọng về chất lượng. Kết quả tổng rà soát phải chuyển ngay thành hành động lập pháp và hành pháp; việc thuộc thẩm quyền cấp nào thì cấp đó phải chủ động giải quyết, xử lý, không đùn đẩy, không để người dân, doanh nghiệp phải chờ đợi vì trách nhiệm không rõ; các vấn đề phức tạp, liên ngành phải xử lý đến cùng.
- Các vấn đề đã được phát hiện phải nêu rõ trách nhiệm xử lý; phương án, giải pháp, lộ trình xử lý phải cụ thể, khả thi; chủ động đề xuất xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền những vấn đề đã rõ, đã đủ cơ sở, không chờ kết thúc toàn bộ nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL mới xử lý; xác định và đề xuất các vấn đề, VBQPPL trọng tâm cần ưu tiên xử lý trong năm 2026, 2027, nhất là về những vấn đề có phạm vi tác động lớn, liên ngành, trực tiếp cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, huy động nguồn lực hoặc làm tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, người dân, bảo đảm việc xây dựng, ban hành VBQPPL khả thi, hiệu quả, phục vụ cho phát triển.
- Kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL phải gắn với yêu cầu đổi mới thể chế, hoàn thiện cấu trúc pháp luật trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương; đánh giá, làm rõ sau khi thực hiện xử lý kết quả tổng rà soát, hệ thống VBQPPL trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa phương sẽ được tinh gọn như thế nào, số lượng VBQPPL dự kiến được giảm, đáp ứng yêu cầu hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện, ít tầng nấc, giảm thủ tục, giảm chi phí tuân thủ (lượng hóa thành các số liệu cụ thể). Các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn từ quy định của pháp luật phải được tháo gỡ triệt để, thực chất để kịp thời điều chỉnh, bổ sung Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI và thể chế hóa chủ trương, định hướng của Đảng tại Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 09-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và các chủ trương, nghị quyết của Đảng có liên quan, đáp ứng các yêu cầu về phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp trực tiếp, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
- Các Báo cáo chuyên đề không chỉ tổng hợp kết quả của các cơ quan, địa phương mà cần phân tích chuyên sâu, rà soát lại phạm vi, tiêu chí và căn cứ của từng nhóm phương án đề xuất, loại bỏ những nội dung không thuộc phạm vi chuyên đề, bổ sung những nội dung thiếu sót, phân tích, chỉ ra được những vấn đề có tính hệ thống, liên ngành, những chủ trương chưa được thể chế hóa đầy đủ; nghiên cứu tích hợp các văn bản có cùng phạm vi điều chỉnh, hướng tới giảm số lượng VBQPPL, xử lý mâu thuẫn, chồng chéo giữa các VBQPPL.
- Thực hiện nghiêm việc lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan; các hiệp hội đại diện ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp lớn, các chuyên gia có kinh nghiệm; đối tượng chịu sự tác động và đối tượng thi hành pháp luật về những khó khăn, vướng mắc, mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở sự phát triển cũng như các vấn đề, nội dung có liên quan để hoàn thiện kết quả tổng rà soát.
5. Bộ Tư pháp tiếp tục phát huy vai trò tích cực của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, tập trung cao độ, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, tổ chức các buổi làm việc, hướng dẫn và giải đáp cho các cơ quan ở Trung ương và địa phương; kịp thời xử lý ngay những khó khăn về dữ liệu, phần mềm hỗ trợ kiểm tra, rà soát VBQPPL; tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo Ban Chỉ đạo tình hình thực hiện của bộ, ngành, địa phương (bằng văn bản) 02 tuần một lần. Đối với các trường hợp chậm hoặc không bảo đảm chất lượng, Bộ Tư pháp báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo để có hình thức đôn đốc, nhắc nhở, phê bình nếu không đáp ứng yêu cầu.
Trên cơ sở Quyết định số 11/QĐ-BCĐ, Hướng dẫn số 06/HD-BCĐ và tình hình thực hiện của các cơ quan ở Trung ương và địa phương, Ban Chỉ đạo giao Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp) tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chủ động nghiên cứu, cập nhật, bổ sung kịp thời các hướng dẫn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL.
6. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục theo dõi, kịp thời hướng dẫn để giải quyết ngay các khó khăn về kinh phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo phục vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL, trong đó phải quán triệt rõ: Công nghệ hỗ trợ phân tích, còn trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý cuối cùng thuộc về con người, trước hết là người đứng đầu.
7. Các cơ quan, địa phương thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ thuộc phạm vi trách nhiệm được Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo phân công; tiếp tục thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo Ban Chỉ đạo tình hình thực hiện nhiệm vụ định kỳ 02 tuần một lần theo hướng dẫn của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp); có phương pháp tổ chức thực hiện khoa học, bảo đảm nguồn nhân lực, kinh phí và các điều kiện bảo đảm để triển khai nhiệm vụ theo đúng yêu cầu; huy động cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, mời các chuyên gia có kinh nghiệm tham gia vào quá trình rà soát, phân tích chuyên sâu; quan tâm, thực hiện chế độ, chính sách, hỗ trợ kịp thời đối với cán bộ tham gia thực hiện nhiệm vụ; kịp thời có hình thức biểu dương, khen thưởng phù hợp đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia, đóng góp tích cực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại cơ quan, địa phương mình.
8. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục chỉ đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên chủ trì tổ chức các hoạt động tham vấn rộng rãi, lấy ý kiến phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp, hiệp hội ngành, hàng, các thành viên, hội viên,... về những bất cập của quy định pháp luật, trong đó, chỉ rõ quy định, văn bản cụ thể có vướng mắc, bất cập cần xử lý; cho ý kiến đối với kết quả tổng rà soát, tổng hợp gửi các bộ, ngành, địa phương có liên quan để nghiên cứu, hoàn thiện kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL chính thức.
9. Các cơ quan báo chí ở Trung ương và địa phương, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo (Bộ Tư pháp), các bộ, ngành, địa phương tăng cường truyền thông về 6 vai trò, ý nghĩa và kết quả thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL, tạo khí thế, quyết tâm chính trị cao nhất, góp phần hoàn thành các mục tiêu của đợt tổng rà soát hệ thống VBQPPL theo Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 ngày 03/4/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
10. Việc triển khai nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu: (i) Không rà soát để có thêm một báo cáo mà để có một hệ thống pháp luật tốt hơn; (ii) Không chỉ thống kê điểm nghẽn mà phải tháo gỡ được điểm nghẽn; (iii) Không chỉ bỏ cái cũ mà phải mở ra được không gian phát triển mới. Sau khi xử lý kết quả tổng rà soát, hệ thống pháp luật phải thống nhất hơn, minh bạch hơn, tinh gọn hơn, khả thi hơn và phục vụ phát triển tốt hơn; (iv) Thực hiện đúng tinh thần “3 đã” và “3 không” là: Đã rõ thì quyết, đã quyết thì làm, đã làm thì phải làm đến cùng và phải có kết quả cụ thể; không để một quy định lạc hậu làm mất một cơ hội phát triển, không để một khoảng trống pháp lý làm chậm một quyết định đúng, không để sự chồng chéo về thẩm quyền trở thành lý do cho sự trì trệ.
11. Ngoài ra Ban Chỉ đạo phân công một số cơ quan tổ chức các Đoàn kiểm tra việc triển khai thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại một số cơ quan ở Trung ương và địa phương để đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng kết quả tổng rà soát./.

Tác giả bài viết: V.D (Theo Thông báo số 6912/TB-CQTTBCĐ)

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
<