1. Về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng
Thứ nhất, việc xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được căn cứ trực tiếp vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được. Theo đó, trường hợp cá nhân, tập thể đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì có thể được xem xét khen thưởng ở mức phù hợp mà không bắt buộc phải có hình thức khen thưởng mức thấp hơn trước đó. Cấp có thẩm quyền căn cứ quy định về tiêu chuẩn, thủ tục, hồ sơ và thành tích thực tế để quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét khen thưởng.
Thứ hai, chỉ sử dụng kết quả khen thưởng công trạng để làm căn cứ xét thành tích khen thưởng công trạng cho lần tiếp theo.
Đồng thời, trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật; điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; hoặc đang xác minh, làm rõ đơn thư khiếu nại, tố cáo hay vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu, thì chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng đối với cá nhân, tập thể thuộc trường hợp này.
Thứ ba, thời gian nghỉ thai sản của cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Quy định này có ý nghĩa trực tiếp đối với việc đánh giá, xét thi đua đối với người lao động nữ trong thời gian thực hiện chế độ thai sản, bởi thời gian nghỉ theo chế độ không bị loại khỏi thời gian công tác khi xem xét danh hiệu thi đua, khen thưởng.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng bổ sung nguyên tắc khi các đối tượng đồng điều kiện và tiêu chuẩn, ưu tiên chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên.
2. Tỷ lệ xét tặng đối với các danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở được quy định cụ thể
Theo Điều 5 Nghị định 368/2026/NĐ-CP, tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” không quá 10% tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Tỷ lệ 10% này không bao gồm những cá nhân được xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng, tức trường hợp được đánh giá “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.
3. Về khen thưởng quá trình cống hiến
Khen thưởng quá trình cống hiến được quy định cụ thể hơn, trong đó xác định thời gian tham gia công tác tương ứng với từng giai đoạn lịch sử, từ trước năm 1945 đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975. Thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng đối với cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung; tuy nhiên, trường hợp nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo pháp luật thì thời gian xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.
Các quy định này tạo cơ sở để việc xét khen thưởng quá trình cống hiến được thực hiện thống nhất, phù hợp với quá trình công tác, đóng góp của cá nhân và từng giai đoạn lịch sử.
Nghị định số 368/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026 và thay thế Nghị định số 152/2025/NĐ-CP./.